Hiển thị các bài đăng có nhãn hoc tieng nhat giao tiep. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hoc tieng nhat giao tiep. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

Từ vựng qua tên các nước


ベトナム                                : Việt Nam
インドネシア                          : Indonesia
タイ                                        : Thái Lan
フィリピン                               : Philippin
ラオス                                    : Lào
シンガポール                        : Singapore
にほん                                 : Nhật Bản
かんこく                                 : Hàn Quốc
インド                                     : Ấn Độ
ちゅうごく                               : Trung quốc
Tác giả: Trung tâm tiếng nhật Hawaii

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

Giao tiếp tiếng nhật

Trung tâm tiếng nhật Hawaii giới thiệu về cách học ngữ pháp cơ bản tiếng nhật

おみずを のみます。

Tôi uống nước.

Trợ từ 「を」biểu thị tác động trực tiếp của hành động.

 としょかんで しゅくだいを します。

Tôi làm bài tập về nhà ở thư viện.

Trợ từ 「で」biểu thị địa điểm diễn ra hành động.

 いっしょに コーヒーへ 行きませんか。

Bạn có đi uống cafe với tôi không?

Mẫu câu biểu thị ý nghĩa mời mọc, rủ rê. Thường có đi kèm với 「いっしょに」

また あした 会いましょう。

Hẹn ngày mai gặp.

Mẫu câu biểu thị lời đề nghị cùng làm gì, mang thái độ chủ động của người nói.



Ví dụ :

タバコを すいますか。

Bạn có hút thuốc lá không?

いいえ、すいません。

Không, tôi không hút.

どようび、なにを しましたか。

Thứ 7, bạn đã làm gì?

にほんごを べんきょうしました。それから、えいがを みました。

Tôi đã học tiếng Nhật. Sau đó, tôi xem phim.

どこで このかばんを かいましたか。

Bạn đã mua cái cặp sách này ở đâu?

デパートで かいました。

Tôi mua ở bách hóa.

こんばん、いっしょに  えいがを みませんか。

Tối nay, bạn đi xem phim với tôi không?

はい、いいですね。みましょう。

Ừ, hay đấy, cùng đi xem nhé.
Tác giả bài viết: Trung tâm tiếng nhật Hawaii

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

CÁCH HỎI GIỜ BẰNG TIẾNG NHẬT

TRUNG TÂM TIẾNG NHẬT HAWAII
Để hỏi thời gian bằng tiếng Nhật ta dùng mẫu câu:

いま、なんじですか?  >>> Bây giờ là mấy giờ ?

ima nan ji desu ka ? 今、何時ですか?

Nếu trả lời : Bây giờ là 4 giờ ta nói : いま、4じです

ima yo ji desu  いま、よじです。

Cách nói giờ bằng tiếng Nhật
1 giờ : ichi ji        いちじ  1時

2 giờ : ni ji     にじ   2時

3 giờ : san ji    さんじ  3時

4 giờ: yo ji     よじ   4時

5 giờ : go ji    ごじ   5時

6 giờ : roku ji   ろくじ  6時

7 giờ : shichi ji (hoặc : nana ji)  しちじ (ななじ) 7時  -> Trong hội thoại người ta dùng   しちじ   nhiều hơn.

8 giờ : hachi ji   はちじ  8時

9 giờ : ku ji     くじ    9時

10 giờ : jyuu ji   じゅうじ  10時

11 giờ : jyuu ichi ji   じゅういちじ 11時

12 giờ :  jyuu ni ji    じゅうにじ  12時

Khi hỏi giờ chúng ta có các cách hỏi sau, câu càng dài thì càng lịch sự, lễ phép và ngược lại.

1. いま、なんじ ですか ?  ( 今、何時ですか?)   ima nanji desu ka ?

2.いま、なんじ?   (今、何時?)                    ima nanji ?

3.なんじ?  ( 何時?)                                  nanji ?

Trả lời cũng vậy, trả lời câu càng dài thì càng kính ngữ và ngược lại.

1.いま、3じです。   (今、3時です。)            ima san ji desu .

2.いま、3じ。      (今、3時。)                 ima san ji .

3.3じ。          (3時。)                      san ji .

Các bạn tập số đếm từ 1 đến 12

1: いち   tiếng kanji viết như sau  :     一

2 : に                      二

3: さん                     三

4: よん (し)                 四

5: ご                     五

6: ろく                    六

7: しち (なな)              七

8: はち                   八

9: きゅう                  九

10: じゅう                 十

11: じゅういち              十一

12: じゅうに               十二

Nếu muốn nói : ” Bây giờ là 2 giờ rưỡi ” ta nói như sau

いま、にじ はん です
ima,ni ji han desu    いま、にじ はん です。   (今、2時半です)

はん : han    là một nữa, trong trường hợp nói về thời gian nó là “rưỡi ” hay 30 phút.

Ta cứ việc thêm chử “han” sau giờ như ví dụ trên là được. Các bạn thử tự nói từ 1 giờ rưỡi

đến 12 giờ rưỡi xem :)

Đề nói phút trong tiếng Nhật ta nói như sau : …ふん  (分)   fun

いま、3時35分です
いま、さんじ さんじゅうご ふん です。 ima san ji sanjuugo fun desu.  Bây giờ là 3 giờ 35 phút

1 phút :        (  一分 )     いっぷん               ippun

2 phút :        ( 二分 )       にふん                 ni fun

3 phút :        ( 三分 )       さんぷん              san pun

4 phút :        ( 四分 )        よんぷん             yon pun

5 phút :        ( 五分)           ごふん              go fun

6 phút :        ( 六分)          ろっぷん              roppun

7 phút :        ( 七分 )         しちふん              shichi fun

8 phút :        ( 八分 )           はっぷん            happun:

9 phút :        ( 九分 ) :         きゅうふん           kyuu fun

10 phút :      ( 十分 )            じゅっぷん           juppun

15 phút :      ( 十五分 )          じゅうごふん       juu go fun

3o phút :       ( 三十分 )        さんじゅっぷん  hay nói cách khác là :   はん      han ( rưỡi)
NGUỒN: http://trungtamtiengnhathawaii.edu.vn/

Những từ cơ bản sau đây người Nhật hay sử dụng để nói xin lỗi

Những từ cơ bản sau đây người Nhật hay sử dụng để nói xin lỗi
1. Sumimasen – すみません

Sumimasen すみません là từ xin lỗi trong tiếng Nhật. Nếu bạn làm gì sai bạn muốn xin lỗi thì dùng Sumimasen すみません.
Từ này nó tương tự như từ Excuse me trong tiếng Anh. Khi bạn muốn hỏi thăm đường với một người khác như : xin lỗi làm ơn cho tôi hỏi đường đi tới Q1 … thì bạn dùng từ Sumimasen すみません.

Để hỏi kính ngữ hơn bạn thường nghe : Doumo sumimasen どうもすみません( Rất xin lỗi ). Bạn sẽ thêm chử Doumo どうも vào trước sumimasen すみません.

Bạn cũng sẽ nghe là : sumimasen desu すみませんです, cũng có ý nghĩa tương tự là xin lỗi.

Vậy tóm lại khi bạn muốn nói xin lỗi bạn nói : sumimasen すみません

Tôi rất xin lỗi : doumo sumimasen  どうもすみません

2. Gomen nasai ごめんなさい

Thân thiết hơn như bạn bè với nhau, người yêu với nhau, hay người trên nói với người dưới ..

Người Nhật dùng Gomen nasai ごめんなさい, và chúng ta cũng thường nghe họ nói đơn giản là gomen ごめん thôi ( vì họ rất thân thiện với nhau)

3. Shitsurei shimasu しつれいします

Chử shitsurei shimasu しつれいします có hàm nghĩa là thất lễ. Và nó bao gồm nghĩa xin lỗi. Dùng để nói với người có vai vế cao hơn mình như thầy cô, sếp … hay tỏ thái độ lịch sự với một người khác. Ví dụ :

Xin lỗi anh, cái này là cái gì vậy …. Thì cũng dùng là Shitsurei shimasu しつれいします.

失礼します。これはなんですか?shitsurei shimasu, kore wa nan desu ka?

Đôi khi từ xin lỗi trong tiếng Nhật cũng có nghĩa là cảm ơn

Thông thường chúng ta sẽ nghe người Nhật hay dùng cả những từ trên với hàm nghĩa là cám ơn ありがとう.

Họ cảm ơn mình họ cũng nói là sumimasen すみません. Thay vì nói là Thank you, arigatou ありがとう họ lại nói là sumimasen すみません. Trong trường hợp này sumimasen すみません có nghĩa là cảm ơn :)

Các từ xin lỗi ở trên như gomen nasai, gomen, sumimasen, shitsureishi masu đều có thể sử dụng để cảm ơn. Đây là văn hóa của người Nhật. Điều này nhiều người Việt Nam chúng ta không hiểu người Nhật, họ nói rằng mình tặng đồ cho họ, đáng lẽ người Nhật phải nói cảm ơn chứ nhưng họ không nói cảm ơn, mà lại nói là xin lỗi :)

Tác giả: Trung tâm tiếng nhật Hawaii
Nguồn: trungtamtiengnhathawaii.edu.vn

Giới thiệu tên bằng tiếng Nhật

Giới thiệu tên bằng tiếng Nhật_TRUNG TÂM TIẾNG NHẬT HAWAII
Hajime mashite, watashi wa Cuong desu.  ( xin chào, tôi tên là Cường )

betonamu kara kimashita . ( Tôi từ Việt Nam đến )

1. Hajime mashite : là xin chào ( dùng khi lần đầu tiên gặp nhau)

Ngữ pháp của bài trên :  Danh từ , đại từ nhân xưng  + “Wa” … desu .

Từ “Wa” : có nghĩa là, thì, ở v..v

Tôi tên là Thanh : watashi wa Thanh desu.

Anh ấy tên là  Bình : kare wa Binh desu.

Cô ấy tên là Ngọc : kanojyo wa Ngoc desu. (kanojyo : cô ấy, ngôi thứ 3 số ít nói về nữ )

Cái này là điện thoại : kore wa denwa desu .  (denwa : điện thoại )

Tôi là học sinh : watashi wa gakusei desu.  (gakusei :học sinh, sensei : giáo viên )

2. Betonamu kara kimashita . (Tôi từ Việt Nam đến )

Tên quốc gia + kara kimashita   ( Tôi từ nước … Đến )

Betonamu : Việt Nam

kare wa amerika kara kimashita ( anh ấy đến từ Mỹ hay là anh ấy là người Mỹ)

kimasu : là động từ đến , động từ nguyên mẫu là:  kuru

kimashita : Đã đến là thể quá khứ của Kuru

Kuru >> kimasu >> kimashita

Kuru : là động từ nguyên mẫu, chưa có chia hay còn gọi là thể tự điển.

kimasu : sẽ đến ( ví dụ : anh ấy sẽ đến : kare wa kimasu )

kimashita : đã đến ( thể quá khứ của kuru )

Ví dụ :   Anh ấy đã đến rồi  ( kare wa kimashita )
NGUỒN: http://trungtamtiengnhathawaii.edu.vn/

HỌC TIẾNG NHẬT QUA CÁC CÂU CHUYỆN

Chắc hẳn các bạn đã từng nghe câu chuyện dân gian về "con quạ và bình nước" rồi chứ ? Hãy cùng TRUNG TÂM TIẾNG NHẬT HAWAII  nghe câu chuyện này bằng tiềng Nhật nhé !


のどがカラカラに乾いたカラスが水差しを見つけ、喜んで水差しに向かいました。
Một con quạ sắp chết vì khát thì tìm thấy một cái bình chứa nước.

しかし水差しには、水が少ししか入っておらず、カラスのくちばしでは、とても水面まで届きません。
Nhưng cái bình chỉ còn lại rất ít nước và nó không thể vọc mỏ xuống để uống

それでもカラスはあきらめる事なく、あらゆる方法を試しました。
Con quạ vẫn không bỏ cuộc và thử mọi cách để uống nước.

しかし、その努力のかいもなく、全てが失敗に終わりました。
Tuy nhiên mọi nỗ lực của nó đều thất bại.

でも、カラスはまだあきらめません。
Nhưng con quạ vẫn không bỏ cuộc

「考えろ、考えろ、あきらめては駄目だ。きっと何か良い方法が。
Nó tự nhủ” hãy suy nghĩ, hãy suy nghĩ, đừng bỏ cuộc, chắc chắn sẽ có một cách tốt hơn”

・・・あっ、そうだ!」
“ Oh, đã có cách”

con-qua-va-binh-nuoc-1

ある名案を思いついたカラスは、集められるだけの石を集めると、それを一つ一つくちばしで水差しの中へ落としていきました。
Con quạ đã đưa ra một sáng kiến. Nó đi nhặt những viên sỏi nhỏ rồi dùng mỏ cặp từng viên sỏi thả vào cái bình.

すると水差しの水位は、石を入れた分だけ増えて行き、ついにカラスのくちばしまで届いたのです
Dần dần nước trong bình đã tăng lên và chạm đến mỏ của nó.

最後まであきらめずに頑張ったカラスは、こうして命を長らえる事が出来たのでした。
Con quạ đã không bỏ cuộc cho đến cuối cùng, do vậy nó đã tự cứu sống được bản thân.

「必要は発明の母」と言います。
Tôi nói "sự cần thiết là mẹ của phát minh" .

どんなに難しい事も、あきらめずに頑張れば、必ず成功します。
Dù khó khăn đến mấy, chỉ cần không bỏ cuộc và cố gắng đến cùng thì nhất định sẽ thành công.

おしまい
Kết thúc

Hy vọng với câu chuyện trên, các bạn có những thời gian học tiếng Nhật thật thú vị ! Và hãy luôn kiên trì trong tất cả các mục địch mà các bạn đang hướng đến, nhất là chinh phục tiếng Nhật nhé !

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

HỌC TIẾNG NHẬT GIAO TIẾP

Học tiếng Nhật giao tiếp
Cũng như bất kỳ ngôn ngữ nào, việc giao tiếp thực tế là một cơ hội lớn để chúng ta rèn luyện kỹ năng giao tiếp. Tuy nhiên không phải ai cũng có cơ hội đó.

Ngày nay, cơ hội để có thể tự học tiếng Nhật là vô cùng lớn, đó chính là tự học tiếng Nhật trên internet. Có rất nhiều tài liệu tiếng Nhật trực tuyến, mà chúng tôi sẽ giới thiệu với các bạn, trang web này cũng chính là một trang học trực tuyến tiếng Nhật như vậy. Để học tiếng Nhật trực tuyến, bạn sẽ cần một người hướng dẫn hoặc tham gia một khóa học tiếng Nhật sơ cấp, nếu không có thể bạn sẽ chìm trong vô số những tài liệu tiếng Nhật miễn phí nhưng không hay và không đem lại bất cứ hiệu quả nào.
Bốn kỹ năng cần có trong tiếng Nhật: Nghe, nói, đọc, viết
Các bạn muốn tự học tiếng Nhật sẽ cảm thấy lo lắng vì cảm thấy mình chỉ có thể học được một kỹ năng duy nhất, đó là “Đọc”. Nhưng xin đừng lo lắng như vậy. Thực ra bạn chỉ cần học hai kỹ năng:
Nghe – Đọc
Thật may là ngày nay cơ hội để bạn đọc, cũng như bạn nghe tiếng Nhật là rất nhiều và không còn phải lo lắng như vậy nữa. Điều duy nhất mà bạn cần có lẽ chỉ là sự truy cập vào internet.
Để rèn luyện kỹ năng đọc tiếng Nhật, các bạn có các tài liệu sau:
- Trang web tiengnhat.tv : Sẽ luôn luôn đưa ra các ví dụ thiết thực về tiếng Nhật cho các bạn
- Các trang bài học tiếng Nhật mà chúng tôi giới thiệu
- Các trang báo tiếng Nhật (ví dụ: http://www.nikkeibp.co.jp/)
- Các trang học có tiếng Nhật cùng NHK có hướng dẫn của giáo viên người Việt
Để rèn luyện kỹ năng nghe tiếng Nhật, các bạn có thể:
- Nghe qua trang web của NHK
- Nghe bài hát trên youtube (VD: Nước mắt hoa mộc lan, Tuyết muộn, Tôi lại yêu người): Các bạn cũng có thể tìm kiếm bài hát trên youtube, và sau đó tìm lời bài hát (bằng từ khóa “tên bài hát 歌詞”, ví dụ “プラネタリウム 歌詞”)
- Xem phim truyền hình Nhật Bản trên youtube (VD: 電車男)
- Các trang web có video tiếng Nhật
- Đưa đoạn văn vào để Google Dịch đọc
Còn kỹ năng nói và viết?
Nếu bạn bắt buộc phải nói và bạn bắt buộc phải viết khi kỹ năng “đọc”, kỹ năng “nghe” chưa tốt thì bạn sẽ thấy mình rất khổ sở khi học tiếng Nhật. Đó là cách học không khôn ngoan. Phần lớn các khóa tiếng học sẽ tạo điều kiện để bạn học cả bốn kỹ năng “nghe, nói, đọc, viết” nhưng thực ra học như vậy sẽ không hiệu quả. Khi các bạn nghe và đọc nhiều, thì các bạn sẽ tự khắc có thể nói và viết được. Điều bạn cần là sự hiểu biết về ngôn ngữ, ví dụ có thể chuyển một câu tiếng Nhật sang tiếng Việt mà giữ nguyên sắc thái (như lịch sự, trang trọng, hay suồng sã, thân mật, v.v…..)
Cách học khôn ngoan là học theo trình tự sau:
Đọc & Nghe

Hiểu (về ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt, tiếng Nhật)

Viết & Nói
Tôi có một lời khuyên là: Đừng cố nói và viết khi bạn còn chưa cảm thấy thoải mái khi làm điều đó. Khi bạn có thể hiểu tiếng Nhật như ngôn ngữ mẹ đẻ thì nói và viết sẽ là những kỹ năng mà bạn tự nhiên có mà không cần nhiều nỗ lực. Đó là cách mà tôi dùng khi tôi học tiếng Anh. Phần lớn thời gian tôi chỉ ngồi nghe, và khi tôi hiểu được nguyên lý chung thì việc giao tiếp tiếng Anh chỉ còn là một việc rất đơn giản, mặc dù tôi không phải là người biết nhiều từ vựng tiếng Anh.
Nên học theo thứ tự nào?
Thứ tự tốt nhất khi học tiếng Nhật là:
Đọc > Hiểu > Nghe > Viết > Nói
Kỹ năng mà bạn cảm thấy có ít cơ hội nhất có lẽ là kỹ năng nghe. Nhưng như tôi đã nói ở trên, nhờ có internet bạn có rất nhiều cơ hội để nghe. Bạn nên tìm nội dung mà bạn muốn nghe, thay vì nghe những nội dung hội thoại trong sách giáo khoa vì sách giáo khoa thường rất nhàm chán. Bạn có thể nghe bài hát, xem một bộ phim, hay nghe những bài diễn thuyết, v.v…. chúng tôi sẽ giới thiệu với các bạn những nội dung như vậy. Ngoài ra, chúng tôi đã giới thiệu với các bạn công cụ đọc tự động và phiên âm tự động ra chữ la tinh của Google (Xem ở đây.) Đây cũng là một cách hay để bạn có thể học nghe.
Tôi có nên kiếm bạn người Nhật để luyện tiếng Nhật?
Nếu bạn có một người bạn Nhật thì cũng là một việc tốt, nhưng bạn phải có khả năng giao tiếp ở một mức độ nào đó trước. Nếu không việc gặp gỡ sẽ trở nên một việc rất chán. Dù sao thì việc có bạn người Nhật cũng không phải là thứ giúp bạn giỏi tiếng Nhật vì không phải người Nhật nào cũng hiểu biết về ngôn ngữ. Ngay cả nhiều người trong chúng ta cũng không nắm rõ về tiếng Việt và không giải thích được cho người nước ngoài hiểu. Cá nhân tôi thì thấy là phần lớn mọi người không hiểu biết về ngôn ngữ, nên hầu như không giúp người khác học tiếng nước mình được. Để kiểm nghiệm điều này các bạn có thể thử dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Tôi có thể cá cược là bạn sẽ khá mệt mà người kia không tiến bộ mấy.
Giỏi giao tiếp không đồng nghĩa với giỏi tiếng Nhật
Lý do: Giao tiếp tiếng Nhật đòi hỏi vốn từ vựng không lớn, chỉ cỡ 1000~2000 từ và chỉ một số mẫu câu đơn giản. Bạn chỉ cần có một vốn từ vựng nhỏ, và một số mẫu câu là có thể giao tiếp tốt. Tuy nhiên, kỹ năng quan trọng nhất vẫn là “đọc hiểu” và “viết”. Nếu bạn muốn dùng tiếng Nhật để tìm công việc tốt, hay bạn muốn làm việc trực tiếp với Nhật Bản, bạn phải “đọc hiểu” và “viết” tốt. Điều này đòi hỏi bạn phải có sự hiểu biết về tiếng Nhật và ngôn ngữ, chứ không đòi hỏi bạn phải giao tiếp tốt.
Giao tiếp chỉ dùng trong các tình huống đơn giản hàng ngày. Hãy tưởng tượng bạn phải trình bày một vấn đề phức tạp về kinh doanh, kinh tế hay kỹ thuật? Lúc đó bạn sẽ thấy là sự hiểu biết tiếng Nhật quan trọng hơn việc nói chuyện trôi chảy.
Tôi luôn rơi vào cảnh học trước quên sau?
Việc này xảy ra khi bạn học những nội dung không hữu dụng (ít dùng) hoặc cách học không làm bạn cảm thấy thú vị. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của tôi việc quên là việc rất tốt. Đó là cơ chế của não để giúp chúng ta chỉ nhớ những thứ cần thiết và hữu dụng (thường là những thứ mà khi học chúng ta cảm thấy thú vị). Việc học theo cách không thú vị thì có rất nhiều. Bạn hãy so sánh hai cách sau.
Cách 1:
度胸:dám, can đảm, có gan
Cách 2:
度胸:dám, can đảm, có gan, ví dụ:
お前は度胸のないやつだね!
Mày đúng là thằng nhát gan nhỉ!
度胸があるかい?
Mày có dám không?
Các bạn có thể thấy là cách 2 sẽ dễ nhớ hơn rất nhiều vì có nhiều thứ để giúp bạn nhớ hơn.
Hoặc là:
Cách 1:
東: “đông”, phía đông
Cách 2:
東: “đông”, phía đông; gồm có 日 (nhật, mặt trời) và 木 (mộc, cây): mặt trời ló sau cái cây, tức là phía đông
Quy tắc để có thể nhớ: Bạn phải tạo ra một “câu chuyện” thú vị liên quan tới thứ bạn muốn nhớ. Câu chuyện đó có thể chỉ là bạn bịa ra. Tôi nhớ khá nhiều từ tiếng Nhật mặc dù nó không thông dụng, vì tôi bịa ra vô số các quy tắc để nhớ.
Ví dụ: hechima = “mướp” > hễ chị má (đến thì sẽ nấu mướp)
Các bạn có thể thấy nó thật ngớ ngẩn, nhưng đó là cách có thể áp dụng ở mọi nơi và cực kỳ hiệu quả: Từ học từ vựng, học chữ kanji đến học ngữ pháp. (Ví dụ bạn có thể nhớ chữ “trà” 茶 gồm có bộ “thảo” – cây cỏ, với hình cái quán trà ở dưới, hay gồm bộ thảo với chữ nhân 人 – người uống trà và chữ “ho” ホ katakana.)
Bạn chỉ không quên khi bạn thực sự hiểu biết về tiếng Nhật.
Làm sao để nghe và nói?
Chỉ có một cách là bạn phải nghe nhiều, bạn phải vượt qua một số giờ nghe nhất định trước khi có thể nắm được các quy luật để nghe hiểu. Làm sao để bạn nghe hiểu tiếng Việt? Chắc chắn là không phải bạn nghe rõ ràng từng từ vì mỗi người nói khác nhau, và nhiều người phát âm không chuẩn. Bạn nghe được vì bạn phán đoán được tình huống, nội dung. Bạn nghe vì bạn nhận ra được nhịp điệu câu mà người ta nói. Điều này cũng đúng với tiếng Nhật. Khi nghe quen thì thậm chí khi chỉ nghe một phần của câu là chúng ta đã có thể phán đoán được nội dung của nó. Khi gặp một người nói khó nghe, ban đầu chúng ta sẽ không nghe được gì, nhưng sau khi quen thì chúng ta nghe được rất tốt vì chúng ta có thể phán đoán được.
Nghe không phải là kỹ năng tai bạn bắt được mọi từ bạn nghe, mà nó là kỹ năng bạn bắt được một số âm thanh, nhịp điệu, phán đoán từ hoàn cảnh và chủ đề.
Và cách để luyện nghe là: Nghe nhiều và học cách phán đoán. Đừng nghe những nội dung mà bạn không thể phán đoán là nó đang nói về cái gì. Hãy nghe những nội dung có phát âm chuẩn, dễ hiểu và có thể phán đoán được.
Còn nói là kỹ năng mà bạn nên học sau kỹ năng nghe. Khi bạn nghe tốt thì việc nói tốt không còn là vấn đề khó.
Tôi có nên luyện thi không?
Luyện thi hay tự luyện thi là cách tốt nhất để bạn hiểu tiếng Nhật. Bạn sẽ thấy là bạn đọc không hiểu hết hay không hiểu gì, bạn nghe không hiểu hết hay không hiểu gì nhưng bạn vẫn phải chọn câu hỏi để trả lời. Đó chính là sự phán đoán. Bạn luyện thi nhiều thì khả năng phán đoán của bạn sẽ lên cao, và đó chính là khả năng tiếng Nhật. Trong cuộc sống hàng ngày hay bất cứ đâu, chúng ta đều phải phán đoán với những thứ chúng ta nhìn thấy và chúng ta nghe thấy. Luyện thi là một cơ hội để nâng cao sự phán đoán (tất nhiên là bạn phải có đáp án và tự chấm điểm được.)
Ngoài ra, nếu luyện thi với một người hiểu biết về tiếng Nhật thì các bạn sẽ được chỉ ra những chỗ sai và biết vì sao mà bạn sai, làm thế nào để không sai như vậy nữa. Đây là một con đường ngắn để đi đến sự hiểu biết tiếng Nhật như ngôn ngữ mẹ đẻ.